Giới thiệu Viettel

Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) là một tập đoàn Viễn thông và Công nghệ Việt Nam.

Sản phẩm nổi bật nhất của Viettel là mạng di động Viettel Mobile, và Viettel Telecom hiện đang là nhà mạng giữ thị phần lớn nhất trên thị trường dịch vụ viễn thông Việt Nam. Trong 30 năm hoạt động, từ ngành nghề chính ban đầu là xây lắp công trình viễn thông, đến nay Viettel đã phát triển thêm 5 ngành nghề mới là ngành dịch vụ viễn thông & CNTT; ngành nghiên cứu sản xuất thiết bị điện tử viễn thông, ngành công nghiệp quốc phòng, ngành công nghiệp an ninh mạng và ngành cung cấp dịch vụ số.

Tính từ năm 2000 tới nay, Viettel đã tạo ra hơn 1,78 triệu tỷ đồng doanh thu; lợi nhuận đạt 334 ngàn tỷ đồng; vốn chủ sở hữu 134 ngàn tỷ đồng; tỷ suất lợi nhuận / vốn chủ sở hữu thường xuyên đạt từ 30-40%. Viettel đã chi 3.500 tỷ đồng thực hiện các chương trình xã hội.

Hiện nay, Viettel đã đầu tư tại 10 thị trường nước ngoài ở 3 Châu lục gồm Châu Á, Châu Mỹ, Châu Phi. Năm 2018, Viettel đạt doanh thu 10 tỷ USD (234.500 tỷ VND). Viettel được đánh giá là một trong những công ty viễn thông có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Năm 2019, Viettel đã trở thành doanh nghiệp thuộc Top 15 công ty viễn thông lớn nhất thế giới về số thuê bao, Top 40 công ty viễn thông lớn nhất thế giới về doanh thu. Giá trị thương hiệu của Viettel được Brand Finance xác định là 4,3 tỷ USD – thuộc Top 500 thương hiệu lớn nhất trên thế giới, và là thương hiệu giá trị nhất Việt Nam.

Lịch sử hình thành


1989 – 1999: Công ty xây lắp công trình cột cao
Ngày 1 tháng 6 năm 1989, Tổng Công ty Điện tử thiết bị thông tin (SIGELCO) được thành lập, là tiền thân của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel). Những ngày đầu thành lập, Sigelco có khoảng 40 nhân sự, vốn là bộ đội từ các đơn vị của của Binh chủng Thông tin liên lạc.

Trong những năm đầu thành lập, Sigelco tập trung triển khai các công trình xây lắp cột cao. Năm 1990, Sigelco xây dựng tuyến vi ba số AWA đầu tiên của Việt Nam. Từ năm 1990 đến năm 1994, Sigelco tiếp tục hoàn thành nhiều dự án công trình thi công xây lắp như: 14 trạm vi ba tiếp nối Vinh – Đà Nẵng và Đà Nẵng – TP HCM, 7 tháp ăng-ten vi ba Đà Nẵng – Nha Trang và Nha Trang – Bình Định, tuyến vi ba răng Ba Vì – Vinh cho Tổng cục Bưu điện; tuyến vi ba băng rộng 140Mb/s Hà Nội – Đà Nẵng; tháp ăng-ten cao nhất Việt Nam (85m) cho Bưu điện Quảng Ninh…

Tháng 12/1992, Tổng Công ty Điện tử thông tin đề nghị Nhà nước cho phép được chuyển thành Công ty Điện tử thiết bị thông tin trực thuộc Binh chủng thông tin liên lạc.

Ngày 13 tháng 6 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ ra Thông báo số 3179/ĐM-DN (do Phó Thủ tướng Trần Đức Lương ký) quyết định cho phép thành lập Công ty Điện tử viễn thông Quân đội. Ngày 14/7/1995, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đổi tên Công ty Điện tử thiết bị thông tin thành Công ty Điện tử Viễn thông quân đội trực thuộc Binh chủng thông tin liên lạc, tên giao dịch quốc tế là VIETEL. Vietel khi đó cũng là doanh nghiệp thứ hai được cấp giấy phép kinh doanh đầy đủ các dịch vụ viễn thông ở Việt Nam.

Ngày 1/7/1997, Trung tâm Bưu chính được thành lập với dịch vụ đầu tiên là phát hành báo chí. Năm 1997, Vietel hoàn thành nhiều công trình thông tin cho ngành Bưu điện, Phát thanh, Vô tuyến truyền hình tại địa phương, trong đó có tháp truyền hình cao nhất Việt Nam (125m) tại Tuyên Quang.

Tháng 9/1999, Vietel hoàn thành đường trục thông tin quân sự Bắc – Nam đầu tiên của Việt Nam, ký hiệu tuyến cáp 1A. Tuyến đường trục cáp quang dài gần 2.000 km, với 19 trạm chính và một số trạm nhánh, dung lượng 2.5 Mbps. Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam áp dụng thành công công nghệ thu-phát trên một sợi quang.

2000 – 2009: Bùng nổ thị trường viễn thông
Ngày 3/2/2000, Tổng Cục trưởng Mai Liêm Trực ký quyết định cho phép Vietel triển khai thử nghiệm dịch vụ điện thoại đường dài, sử dụng công nghệ VoIP. Khi đó, Vietel là đơn vị duy nhất tại Việt Nam được cấp phép[14]. Ngày 15/10/2000, Vietel chính thức kinh doanh thử nghiệm có thu phí dịch vụ điện thoại đường dài VoIP trên tuyến Hà Nội – TP HCM với dịch vụ “178 – mã số tiết kiệm của bạn”. Sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên ở Việt Nam, bên cạnh VNPT, có một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông.

Ông Mai Liêm Trực, cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông, chia sẻ: “Tôi biết rằng đó sẽ là một đêm lịch sử. Khi đó, không mấy người hiểu và hình dung được điều này. Ngay cả người Viettel có lẽ cũng không hiểu được hết sự thay đổi đến mức kinh khủng của thị trường viễn thông Việt Nam sau sự kiện tháng 10 năm ấy”.

Dịch vụ 178 thành công, mang về cho Vietel những nguồn lực rất lớn. Vietel mở rộng dịch vụ 178 tới 62 tỉnh thành khác (lúc đó Hà Nội và Hà Tây chưa sáp nhập), và hoàn vốn sau 9 tháng đưa vào khai thác toàn mạng. Năm 2000, Vietel lắp đặt thành công cột phát sóng của Đài truyền hình quốc gia Lào (140m). Ngày 5/12/2001, Vietel mở dịch vụ điện thoại quốc tế sử dụng công nghệ VoIP.

Ngày 28/12/2002, Vietel chính thức khai trương dịch vụ kết nối Internet, tốc độ đường truyền Internet quốc tế 2Mbps với giá còn 1/3 so với giá hiện hành[17]. Ngày 28/10/2003, Bộ Quốc phòng đổi tên Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội thành Công ty Viễn thông Quân đội thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc, tên giao dịch là Viettel[18]. Tháng 3/2003, Viettel cung cấp dịch vụ điện thoại cố định (PSTN) đường dài tại Hà Nội và TP HCM. Ngày 9/1/2004, Viettel chính thức ra mắt logo và bộ nhận diện thương hiệu Viettel và sử dụng đến nay.

Ngày 27/4/2004, Bộ Quốc phòng điều chuyển Viettel thuộc Binh chủng Thông tin Liên lạc về trực thuộc Bộ Quốc phòng. Ngày 15/10/2004, Viettel khai trương dịch vụ thông tin di động 098. Khát vọng của Viettel khi ấy là mỗi người dân Việt Nam có một chiếc điện thoại di động.

Năm 2005, Viettel hoàn thành tuyến cáp quang quân sự Bắc – Nam 1B sau 2 năm triển khai. Đây là đường trục 10Gbps đầu tiên của Việt Nam, giúp vùng phủ truyền dẫn trong nước của Viettel tăng từ 23 lên 52 tỉnh. 7 tháng sau, Viettel hoàn thành đường cáp quang 1C, sử dụng công nghệ ghép bước sóng (DWDM), dụng lượng 40 lambda. Ngày 6/4/2005, Công ty Viễn thông Quân đội chuyển đổi thành Tổng Công ty Viễn thông Quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng, các Trung tâm và Xí nghiệp trực thuộc chuyển đổi thành các Công ty con. Viettel cũng ra mắt cách tính cước theo block 6s. Sau khi cách tính cước này tạo bước đột phá trên thị trường, Viettel tiếp tục thống nhất phương thức tính cước này trên các dịch vụ còn lại, trở thành doanh nghiệp đầu tiên tính cước block 6s cho dịch vụ điện thoại đường dài.

Năm 2006, Viettel thành lập Công ty Viettel Cambodia, cung cấp dịch vụ điện thoại quốc tế, Internet và thuê kênh tại Campuchia. Viettel trở thành công ty đầu tiên của Việt Nam đầu tư viễn thông ra nước ngoài. Tháng 3/2007, Viettel sáp nhập 3 Công ty lớn bao gồm: Đường dài, Internet, Di động thành Công ty Viễn thông Viettel (Viettel Telecom). Tháng 6/2007, Trung tâm Công nghệ Viettel được thành lập[. Ngày 24 tháng 10 năm 2007, Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội đã cấp Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103020282 cho phép thành lập Công ty Cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel (Viettel Global JSC).

Năm 2008, Viettel đẩy mạnh các hoạt động trách nhiệm xã hội như: tài trợ chương trình Chúng tôi là chiến sĩ, Như chưa hề có cuộc chia ly, chương trình mổ tim nhân đạo Trái tim cho em, chương trình phẫu thuật Nụ cười, Internet trường học…

Ngày 19/2/2009, Viettel Cambodia khai trương dịch vụ với thương hiệu Metfone trên toàn lãnh thổ Campuchia[31]. Ngày 16/10/2009, Star Telecom (liên doanh giữa Viettel và Lao Asia Telecom) khai trương dịch vụ với thương hiệu Unitel tại Lào[32]. Ngày 14/12/2009, Tổng Công ty Viễn thông Quân đội trở thành Tập đoàn Viễn thông Quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng[33]. Sau hơn 5 năm hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ di động, Viettel Mobile đã chiếm được 40% thị phần thuê bao di động với hơn 42,5 triệu thuê bao kích hoạt. Bùng nổ dịch vụ viễn thông cũng giúp doanh thu của Viettel tăng gấp hơn 1.000 lần trong vòng 10 năm.

2010 – 2018: Tập đoàn công nghệ và toàn cầu
Ngày 25/3/2010, Viettel khai trương 3G tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước với 8.000 trạm phát sóng 3G tại thời điểm khai trương. Cuối năm 2010, Viettel hoàn thành chương trình kết nối Internet trường học cho toàn ngành giáo dục.

Ngày 8/9/2011, Viettel khai trương mạng Natcom, cung cấp các dịch vụ viễn thông tại Haiti sau gần 1 năm đầu tư, trở thành công ty duy nhất cung cấp đầy đủ dịch vụ viễn thông, công nghệ 3G và cũng là nhà mạng sở hữu cổng kết nối Internet quốc tế duy nhất của Haiti qua tuyến cáp quang biển 10Gbps tới Bahamas kết nối đi Mỹ. Tổng thống Haiti, ông Michel Martelly chia sẻ, 3.000 km cáp quang mà NATCOM đã xây dựng sẽ góp phần tạo nên cuộc cách mạng về lĩnh vực viễn thông ở đất nước này. Cuối năm 2011, dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông và công nghệ thông tin (CNTT) của Viettel đi vào vận hành, có khả năng sản xuất nhiều chủng loại khác nhau như thiết bị đầu cuối, thiết bị hạ tầng mạng, thiết bị thông tin quân sự. Năm 2011 cũng đánh dấu nhiều dấu mốc trong nghiên cứu sản xuất như: thử nghiệm thành công hệ thống cảnh báo sóng thần tại Đà Nẵng, thử nghiệm thành công hệ thống giám sát hồ nước, khai trương trung tâm dữ liệu Viettel IDC Sóng Thần, thành lập Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel. Số lượng đường trục cáp quang của Viettel được nâng lên thành 5 đường (1A, 1B, 1C, 1D và Đông Dương). Ngày 5/12/2011, Viettel tiếp nhận nguyên trạng EVN Telecom.

Ngày 15/5/2012, Viettel khai trương mạng di động Movitel tại Mozambique[43]. Đầu tháng 10, loạt điện thoại di động Sumo 2G V6206 đầu tiên do Viettel tự sản xuất trên dây chuyền của mình đã xuất xưởng và đưa ra thị trường. Viettel cũng thực hiện thành công sản xuất, chế tạo nhiều thiết bị thông tin quân sự đáp ứng nhu cầu an ninh quốc phòng. Với doanh thu năm 2012 hơn 141.418 tỷ đồng, Viettel trở thành doanh nghiệp viễn thông và CNTT lớn nhất Việt Nam.

Bước sang năm 2013, tại các diễn đàn viễn thông và CNTT, lãnh đạo Tập đoàn tuyên bố thay đổi chuyển dịch trong Viettel, từ nhà mạng viễn thông thành nhà cung cấp dịch vụ. Bộ Quốc Phòng chính thức giao nhiệm vụ cho Viettel sản xuất trang bị quân sự. Tháng 3/2013, mạng Telemor ở Timor Leste khai trương. Tháng 11/2013, Bưu chính Viettel (Viettel Post) cán mốc doanh thu một nghìn tỷ đồng, trở thành thành viên của CLB các doanh nghiệp nghìn tỷ tại Việt Nam.

Năm 2014, Viettel chính thức bán những thẻ sim đầu tiên với thương hiệu Nexttel tại Cameroon và Bitel tại Peru. Sau hơn 10 năm kinh doanh dịch vụ di động, Viettel bắt đầu chuyển hướng sang CNTT bằng việc ra đời nhiều dịch vụ giải pháp như: dịch vụ chứng thực chữ ký số CA, hệ thống quản lý nhà trường SMAS, dịch vụ Agri.One hỗ trợ người nông dân, dịch vụ chống trộm và giám sát thông minh cho xe máy Smart Motor, dịch vụ chuyển tiền tận nhà BankPlus… Cũng trong năm này, Viettel thay đổi cách làm các chương trình xã hội, tập trung vào các chương trình lớn, có ý nghĩa xã hội cao như Quỹ bò giống thoát nghèo, Internet băng siêu rộng, Vì em hiếu học…

Tháng 3 và tháng 10/2015, Viettel bắt đầu kinh doanh tại Burundi với thương hiệu Lumitelvà tại Tazania với thương hiệu Halotel. Tại Việt Nam, Viettel là doanh nghiệp viễn thông đầu tiên thử nghiệm cung cấp dịch vụ 4G.

Tháng 11/2016, Viettel chính thức nhận giấy phép cung cấp dịch vụ 4G trên lãnh thổ Việt Nam và tuyên bố sản xuất thành công thiết bị hạ tầng cho mạng viễn thông. Viettel cán mốc 36 triệu khách hàng quốc tế.

Ngày 18/4/2017, Viettel chính thức khai trương mạng viễn thông 4G tại Việt Nam. Với vùng phủ toàn quốc lên tới 95% dân số, Viettel là nhà mạng đầu tiên trên thế giới có vùng phủ 4G toàn quốc ngay khi khai trương. Giữa năm 2017, hệ thống tính cước thời gian thực (vOCS) do Viettel tự phát triển đi vào hoạt động. Ngày 19/7/2017, Công ty mẹ Viettel chính thức được Chính phủ công nhận là doanh nghiệp Quốc phòng An ninh.

Năm 2018 cũng chứng kiến những nỗ lực của Viettel trong việc góp phần thúc đẩy Chính phủ điện tử với các sản phẩm: hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng quốc gia, dự án cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, dự án đô thị thông minh, cổng thông tin 1 cửa quốc gia. Ngày 5/1/2018, Tập đoàn Viễn thông Quân đội đổi tên thành Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội. Tháng 3/2018, dịch vụ máy chủ ảo do Viettel phát triển mang tên Viettel StartCloud ra đời, Viettel dẫn đầu thị trường về dịch vụ Data Center và Cloud. Tháng 6/2018, thương hiệu quốc tế thứ 10 của Viettel – mạng di động quốc tế Mytel – khai trương tại Myanmar. Tháng 8/2018, Viettel chuyển tiếp sang Giai đoạn phát triển 4: Giai đoạn của 4.0 và Kinh doanh toàn cầu. Chiến lược phát triển trong giai đoạn này là duy trì tốc độ tăng trưởng 10-15%, trở thành Tập đoàn công nghệ kinh doanh toàn cầu, tiếp tục duy trì vị thế dẫn dắt số một Việt Nam về viễn thông và công nghiệp công nghệ cao.

2018 – nay: Nhà cung cấp dịch vụ số
Đầu tháng 12/2018, Viettel kích hoạt thành công 30 trạm phát sóng đầu tiên cùng nền tảng cung cấp dịch vụ sử dụng công nghệ NB-IoT tại Hà Nội, trở thành nhà mạng đầu tiên tại Việt Nam triển khai thành công mạng IoT thương mại. Nửa đầu năm 2019, Viettel cũng ra mắt nhiều Tổng Công ty và Công ty đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển giai đoạn 4 của mình như: Tổng Công ty Giải pháp Doanh nghiệp, Công ty An ninh mạng, Tổng Công ty Công nghiệp Công nghệ cao và Tổng Công ty Dịch vụ số.

Tháng 4/2019, Viettel hoàn thành tích hợp hạ tầng phát sóng 5G đầu tiên tại khu vực hồ Hoàn Kiến (Hà Nội) và phát sóng thử nghiệm thành công trên các băng tần được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép. Ngày 10/5/2019, Viettel cùng Tập đoàn Ericsson (Thụy Điển) thực hiện kết nối chính thức lần đầu tiên trên mạng di động 5G tại Việt Nam.

Tháng 6/2019, Viettel++, chương trình chăm sóc khách hàng lớn nhất từ trước đến nay của Viettel, chính thức đi vào hoạt động. Cuối tháng 6/2019, Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-cabinet) do Viettel phát triển cũng đi vào hoạt động sau hơn 3 tháng chuẩn bị. Tại buổi khai trương Hệ thống, Quyền Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Viettel Lê Đăng Dũng cam kết sẽ luôn đồng hành cùng Chính phủ để góp phần thực hiện sứ mệnh kiến tạo xã hội số, triển khai thành công Chính phủ điện tử tại Việt Nam.

Tháng 7/2019, Trung tâm giám sát điều hành đô thị thông minh cấp tỉnh đầu tiên của Việt Nam trên nền tảng Smart City đã ra mắt tại Thừa Thiên Huế. Mô hình được triển khai trên nền tảng giải pháp Smart City của Viettel. Với 10 dịch vụ giám sát đô thị thông minh, thu thập phản ánh của người dân và gửi đến các cơ quan chức năng để xử lý nhanh chóng, mô hình tại Huế được Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đánh giá rất cao. Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông Phạm Anh Tuấn cho rằng đây là mô hình phù hợp cho việc triển khai xây dựng trên toàn quốc theo mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra.

Cũng trong tháng 7/2019, Viettel bước chân vào thị trường gọi xe công nghệ với ứng dụng MyGo, đồng thời ra mắt website thương mại điện tử VoSo.vn. Cuối tháng 7, Viettel tuyên bố sẽ định hướng ứng dụng Mocha thành một siêu ứng dụng, đáp ứng các nhu cầu nghe nhạc, xem phim, video, đọc tin tức, chơi game… và kết nối với nhiều ứng dụng khác của Viettel.

Tháng 8/2019, tại Diễn đàn cấp cao về CNTT-TT Việt Nam (Vietnam ICT Summit) 2019, Viettel cùng một số doanh nghiệp CNTT lớn tại Việt Nam thành lập Liên minh Chuyển đổi số Việt Nam. Thiếu tướng Lê Đăng Dũng, Quyền Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Viettel được bầu làm Chủ tịch Liên minh.

Tháng 9/2019, Viettel công bố sẽ phát sóng 5G và đưa vào khai thác hạ tầng kết nối vạn vật (IoT) tại TP Hồ Chí Minh. Tại đây, Viettel đã hoàn thành xây dựng 1.000 trạm NB-IoT phủ sóng 100% thành phố và phủ sóng 5G trên toàn bộ phường 12, quận 10, TP HCM. TP HCM trở thành địa phương đầu tiên trên cả nước phủ sóng 5G liền mạch và IoT trên diện rộng. Theo công bố của Hiệp hội Di động Thế giới (GSMA), Viettel là đại diện duy nhất của Việt Nam góp mặt trong danh sách 50 nhà mạng đầu tiên trên thế giới triển khai thành công công nghệ 5G.

Lãnh đạo hiện nay


Phụ trách Chủ tịch kiêm Phụ trách Tổng Giám đốc : Thiếu tướng Lê Đăng Dũng

Phó Tổng Giám đốc (Bí thư Đảng ủy): Thiếu tướng Hoàng Sơn

Phó Tổng Giám đốc: Đại tá Nguyễn Thanh Nam

Phó Tổng Giám đốc: Đại tá Tào Đức Thắng

Phó Tổng Giám đốc: Đại tá Nguyễn Đình Chiến

Phó Tổng Giám đốc: Đại tá Đỗ Minh Phương

Khen thưởng cấp Nhà nước


Huân chương Độc lập hạng Nhất (2019).
Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (2013).
Danh hiệu Anh hùng Lao động (2011).
Huân chương Độc lập hạng Ba (2009).
Danh hiệu Anh hùng Lao động giai đoạn 1996-2005 (2007).
Huân chương Lao động Hạng Nhất (2004).
Các giải thưởng Quốc tế


Giải Vàng hạng mục Chiến dịch Mobile Marketing của năm, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho chiến dịch “Shake the Amazing” của Mytel (2019)
Giải Vàng hạng mục Công ty phát triển nhanh nhất năm, khu vực Trung Đông và Châu Phi, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho Lumitel (2019)
Giải Bạc hạng mục Chiến dịch Truyền thông PR của năm – Ra mắt sản phẩm dịch vụ mới, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho Mytel (2019)
Giải Bạc hạng mục Kinh doanh/Chính phủ, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho ứng dụng Viettel Post (2019)
Giải Đồng hạng mục Phòng Truyền thông của năm, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho Phòng Truyền thông của Viettel Post (2019)
Giải Đồng hạng mục Sản phẩm viễn thông mới xuất sắc, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho gói cước không giới hạn Ti5 của Viettel Peru (2019)
Giải Đồng hạng mục Dịch vụ mới tốt nhất trong lĩnh vực tài chính, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho sản phẩm ViettelPay (2019)
Giải Dự án thành phố thông minh sáng tạo nhất châu Á, Giải thưởng Telecom Asia Awards (2019)
Giải Best Story telling – short form hạng mục Chiến dịch xuất sắc nhất của năm, Giải thưởng Youtube Works Awards 2019 cho sản phẩm ViettelPay (2019)
Giải Nhất hạng mục Fintech, Giải thưởng APICTA 2018 cho sản phẩm ViettelPay (2018)
Giải Vàng hạng mục Sản phẩm/Dịch vụ tốt nhất của năm, Giải Kinh doanh Quốc tế International Business Stevie Awards (IBA) cho sản phẩm Hệ thống tính cước thời gian thực vOCS 3.0 (2018)
Giải Bạc hạng mục Doanh nghiệp phát triển nhanh nhất năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Halotel 
Giải Bạc hạng mục Chiến dịch marketing ấn tượng nhất năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Bitel (2017)
Giải Vàng hạng mục Sản phẩm, dịch vụ mới tốt nhất lĩnh vực Truyền thông và Giải trí, Giải thưởng Stevie Awards cho gói Youtube trên thị trường Campuchia, Tanzania và Peru (2017)
Giải Bạc hạng mục Dịch vụ, sản phẩm viễn thông mới tốt nhất, Giải thưởng Stevie Awards (2017)
Giải Bạc hạng mục Dịch vụ sản phẩm, dịch vụ CSKH mới tốt nhất, Giải thưởng Stevie Awards cho sản phẩm My Viettel (2017)
Giải Bạc hạng mục Sản phẩm, dịch vụ CNTT cho Sức khỏe, Giải thưởng CNTT Thế giới cho sản phẩm Hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe cơ bản và Hệ thống tiêm chủng quốc gia (2017)
Giải Vàng hạng mục Giải pháp Phát triển ứng dụng di động, Giải thưởng CNTT Thế giới cho sản phẩm Mocha (2017)
Giải Đồng hạng mục Cải tiến trong CNTT, Giải thưởng CNTT Thế giới cho sản phẩm Giải pháp Bảo mật viễn thông (2017)
Giải Vàng hạng mục Sản phẩm triển khai tốt nhất tại Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Giải thưởng CNTT Thế giới cho sản phẩm Bankplus (2016)
Giải Đồng hạng mục Sản phẩm và dịch vụ viễn thông tốt nhất, Giải thưởng CNTT Thế giới cho sản phẩm Hệ thống tính cước và chăm sóc khách hàng BCCS 2.0 và Hệ thống chống tin nhắn rác Anti-spam (2016)
Giải Đồng, Giải thưởng CNTT Thế giới và Truyền thông ASEAN cho sản phẩm Hệ thống phân tích dữ liệu Customer Insights (2016)
Giải Vàng hạng mục Doanh nghiệp phát triển nhanh nhất năm khu vực châu Á, châu Úc và New Zealand, Giải thưởng Stevie Awards cho Lumitel (2016)
Giải Bạc hạng mục Chương trình xã hội của năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Bitel (2016)
Giải Dịch vụ viễn thông mới tốt nhất năm và Giải chiến dịch Marketing của năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Metfone (2016)
Giải Bạc hạng mục Sản phẩm, dịch vụ mới tốt nhất của năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Metfone (2016)
Giải Vàng hạng mục Doanh nghiệp phát triển nhanh nhất năm khu vực châu Á, châu Úc và New Zealand, Giải thưởng Stevie Awards cho Telemor (2015)
Giải Bạc hạng mục Chương trình xã hội của năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Natcom (2015)
Giải Judge’s Award, Giải thưởng Mobile Innovations Awards, khu vực châu Âu, Trung Đông và châu Phi 2014 cho Movitel (2014)
Giải Vàng hàng mục Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất năm, khu vực châu Âu, Trung Đông và châu phi, Giải thưởng Stevie Awards cho Movitel (2014)
Giải Bạc hạng mục Dịch vụ khách hàng mới của Năm, Giải thưởng Stevie Awards cho sản phẩm Tổng đài tiếng dân tộc (2014)
Giải Khởi nghiệp ấn tượng trong năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Telemor (2014)[101]
Giải thưởng Dịch vụ tài chính tốt nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cho sản phẩm BankPlus Mastercard (2014)
Giải Doanh nghiệp dẫn đầu về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực di động cho Movitel, Giải thưởng Frost & Sullivan (2013)
Giải Hãng viễn thông tốt nhất tại thị trường đang phát triển, Giải thưởng Truyền thông Thế giới World Communication Awards cho Unitel (2012)
Giải Doanh nghiệp có giải pháp tốt nhất giúp cải thiện viễn thông cho khu vực nông thôn Châu Phi, Giải thưởng Truyền thông Châu Phi AfricaCom cho Movitel (2012)
Giải Nhà cung cấp dịch vụ viễn thông tốt nhất thế giới tại các nước đang phát triển cho Metfone (2011)
Giải Nhà cung cấp dịch vụ triển vọng nhất của năm, Giải thưởng Frost & Sullivan cho Metfone (2010)
Giải Nhà cung cấp dịch vụ viễn thông thế giới tại các nước đang phát triển, Giải thưởng WCA (2009)
Thành tựu nổi bật
Tại Việt Nam
Thương hiệu giá trị lớn nhất Việt Nam (2019)
Nhà mạng đầu tiên triển khai thử nghiệm thành công cuộc gọi 5G (2019)
Doanh nghiệp Viễn thông đầu tiên ở Việt Nam thử nghiệm cung cấp dịch vụ 4G (2015)
Doanh nghiệp nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam (2012
Doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất tại Lào và Campuchia (2014)
Doanh nghiệp chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường viễn thông Việt Nam (2013)
Mạng phủ sóng lớn nhất Việt Nam (2008)
Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (2009)
Số 4/10 thương hiệu nổi tiếng nhất Việt Nam (2009)
Mạng lưới viễn thông lớn nhất Việt Nam (2009)
Công ty di động lớn nhất Việt Nam (2008)
Trong khu vực
Mạng di động giữ thị phần số 1 trên thị trường viễn thông tại Campuchia (2011-nay)
Top 30 thương hiệu viễn thông giá trị nhất trong khu vực và số 1 tại Lào cho Unitel (2016
Nhà mạng duy nhất tại Peru cung cấp dịch vụ trên duy nhất nền tảng 3G (2014)
Trên thế giới
1 trong 50 nhà mạng đầu tiên trên thế giới triển khai thành công NB-IoT (2019)
Top 500 thương hiệu có giá trị nhất thế giới (Brand Finance, 2019)
Top 50 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới (Brand Finance, 2018)
Thương hiệu có giá trị nhất Việt Nam (Brand Finance, 2018)
Top 30 hãng viễn thông lớn nhất thế giới về người dùng (2016)
Top 10 nhà khai thác có lượng thuê bao phát triển mới nhiều nhất trên thế giới (2012)
Top 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới (Informa Telecoms & Media, 2008)
Top 4 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông tốt nhất ở các quốc gia đang phát triển (WCA, 2008, 2009)
Top 100 các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông dựa trên số lượng thuê bao di động (Wire Intelligence, 2007)
Số 1 trong top 20 công ty phát triển nhanh nhất (2007)
Lĩnh vực kinh doanh
Cung cấp sản phẩm, dịch vụ viễn thông, CNTT, phát thanh, truyền hình, truyền thông đa phương tiện;
Hoạt động thông tin và truyền thông;
Hoạt động thương mại điện tử, bưu chính, chuyển phát[69];
Cung cấp dịch vụ tài chính, dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán, trung gian tiền tệ;
Cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử, trang tin điện tử, mạng xã hội;
Tư vấn quản lý, khảo sát, thiết kế, dự án đầu tư;
Xây lắp, điều hành công trình, thiết bị, hạ tầng mạng lưới viễn thông, CNTT, truyền hình;
Nghiên cứu, phát triển, kinh doanh trang thiết bị kỹ thuật quân sự, công cụ hỗ trợ phục vụ quốc phòng, an ninh;
Nghiên cứu, phát triển, kinh doanh hàng lưỡng dụng;
Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển;
Nghiên cứu, phát triển, kinh doanh máy móc, thiết bị viễn thông, CNTT, truyền hình và truyền thông đa phương tiện;
Nghiên cứu phát triển, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và an toàn thông tin mạng;
Quảng cáo, nghiên cứu thị trường;
Hoạt động tư vấn quản lý tổ chức giới thiệu và xúc tiến thương mại;
Thể thao.

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_%C4%91o%C3%A0n_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_%E2%80%93_Vi%E1%BB%85n_th%C3%B4ng_Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *